Ngành LĐ-TB&XH: Vượt và đạt toàn diện 100% kế hoạch năm 2018

Khép lại năm 2018, ghi dấu ngành LĐ-TB&XH đã đạt được những kết quả tích cực, hoàn thành toàn diện 3 chỉ tiêu của Quốc hội, đặc biệt là các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá mà Bộ đã đề ra. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều cả nước còn 5,35%; Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị còn dưới 4% so với năm 2017; Tạo việc làm mới cho 1,64 triệu người – trong đó đưa đi xuất khẩu lao động trên 140 nghìn người… Đây là năm thứ 3 liên tiếp xác lập kỷ lục mới về xuất khẩu lao động.

Đấy mới chỉ là một vài con số “biết nói” trong nhiều thành tựu nổi bật của ngành LĐ-TB&XH đạt được trong năm 2018, được đưa ra tại Hội nghị trực tuyến với 63 tỉnh, thành đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 của ngành diễn ra sáng nay 18/1/2019. Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam dự và trực tiếp chỉ đạo hội nghị. Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung; Đại diện các Bộ, ban ngành; lãnh đạo UBND các tỉnh, thành và lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH các địa phương tại 63 điểm cầu trên cả nước.

Nhiều chuyển biến tích cực 

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung phát biểu khai mạc Hội nghị

Thực hiện các Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội; quán triệt Nghị và tổ chức thực hiện nghiêm Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 với Phương châm hành động của ngành là “Đoàn kết – kỷ cương – sáng tạo – hiệu quả”, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) đã ban hành Chương trình công tác năm 2018 với các chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, 15 nhóm giải pháp chủ yếu và 118 nhiệm vụ cụ thể để tổ chức thực hiện trong toàn ngành.
Báo cáo tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Doãn Mậu Diệp cho biết, năm 2018 toàn ngành đã đạt được những kết quả tích cực, tạo một bước tiến mới so với năm 2017. Cụ thể: 

Ngành đã hoàn thành 100% các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, đặc biệt là chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ giao, góp phần cùng cả nước hoàn thành toàn diện 12 chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội:

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị là 3,1% (thấp nhất trong 11 năm trở lại đây).

Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58,6%; trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 23- 23,5%.

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giảm 1,35% so với cuối năm 2017, riêng các huyện nghèo giảm trên 5%.

Tập trung hoàn thiện thể chế: Hoàn thành 100% các đề án, nhiệm vụ được giao trong năm.

Đặc biệt, đã tham mưu, trình Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương khu vực sản xuất, kinh doanh, trình Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành trong Nghị quyết số 27-NQ/TW.

Lĩnh vực Giáo dục Nghề nghiệp: Tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp đổi mới và phát triển giáo dục nghề nghiệp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Rà soát, sắp xếp cơ sở giáo dục nghề nghiệp; Thực hiện gắn kết hiệu quả giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn…

Ước tuyển sinh năm 2018 khoảng 2,21 triệu người, đạt 100,5% kế hoạch. Trong đó: trình độ cao đẳng, trung cấp là 545 nghìn người, đạt 100,9% kế hoạch; sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác khoảng 1,665 triệu người, đạt 100,3% kế hoạch.

Ước tốt nghiệp khoảng 2,1 triệu người; trong đó tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp khoảng 440 nghìn người.

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp nhấn mạnh: Ngành đã hoàn thành 100% chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra

Phát triển thị trường lao động, tạo việc làm:

Ước cả năm tạo việc làm cho khoảng 1,648 triệu người, đạt 103,1% kế hoạch.

Trong đó: Tạo việc làm trong nước khoảng 1,506 triệu người, đạt 101,1% kế hoạch; đưa trên 142,8 nghìn người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đạt 129,9% kế hoạch, cao nhất từ trước đến nay. Tỷ lệ mỗi giới được tạo việc làm trên 48%.

Để có được những con số vượt trội đó, năm qua, ngành đã tập trung thực hiện các giải pháp phát triển thị trường lao động; dự báo nhu cầu thị trường lao động, khớp nối cung – cầu lao động trên thị trường; vận hành và quản trị Trung tâm tích hợp dữ liệu thị trường lao động; cập nhật hệ thống thông tin thị trường lao động, thu thập, cung cấp thông tin về việc làm trống, người tìm việc…

Triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động trong độ tuổi thanh niên, lao động là người khuyết tật, lao động nông thôn, lao động bị thu hồi đất nông nghiệp, lao động di cư, lao động là người dân tộc thiểu số, phụ nữ; Tiếp tục thực hiện các giải pháp duy trì và phát triển thị trường lao động ngoài nước.

Về chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội: Trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; kiểm tra tình hình lao động, tiền lương tại các tập đoàn, tổng công ty, công ty nhà nước.

Cùng với đó, triển khai các giải pháp mở rộng, phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, đến nay cả nước có 14,724 triệu người tham gia BHXH, chiếm khoảng 30,4% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Đặc biệt, về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng: được triển khai thực hiện tốt, đời sống người có công được nâng lên. Trình Chính phủ ban hành Nghị định số 99/2018/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng; chỉ đạo các địa phương thực hiện đầy đủ các chính sách cho trên 1,33 triệu đối tượng người có công. Vận hành thông suốt Cổng thông tin điện tử về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ. Tiếp tục phối hợp với Bộ Xây dựng triển khai việc hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở.

Ước đến cuối năm 2018 có 99% hộ gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; 98,5% xã/phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ, người có công.

Cùng với đó, các lĩnh vực xã hội: về giảm nghèo nhanh và bền vững, thu nhập của hộ nghèo được nâng lên, đời sống được cải thiện rõ rệt; Các chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện đầy đủ, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trên 2,8 triệu người với kinh phí trên 17 nghìn tỷ đồng. Công tác người cao tuổi; bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới, phòng, chống tệ nạn xã hội được quan tâm chỉ đạo thực hiện, đạt kết quả đáng khích lệ.

Tập trung đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra; Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính. Theo đó đã cắt giảm 60 điều kiện kinh doanh, đạt tỷ lệ 56,07% (60/107 điều kiện). Hoàn thành Thông tư quy định Danh mục sản phẩm hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ, cắt giảm và đơn giản hóa 19/32 sản phẩm hàng hóa, đạt tỷ lệ 59,37% (vượt chỉ tiêu Chính phủ giao)…

“Nhìn chung, tất cả các lĩnh vực của ngành có nhiều chuyển biến tích cực so với cùng kỳ năm 2017, đặc biệt là các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá mà Bộ đã đề ra. Để có những kết quả nổi bật đó của toàn ngành trong năm qua, có thể nói, là do nhận được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ và ủng hộ của các Bộ, ngành, địa phương; sự đồng thuận của toàn xã hội; với sự chủ động, linh hoạt, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành, kiên trì thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Bộ, ngành và sự đoàn kết, nỗ lực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động toàn ngành LĐ-TB&XH”- Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp nhấn mạnh.

Để lại phản hồi